NI TRƯỞNG THÍCH NỮ MINH TUỆ
Ni trưởng
THÍCH NỮ MINH TUỆ
(1948 - 2026)

Tiểu sử

TIỂU SỬ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ MINH TUỆ (1948 - 2026)

I. Thân thế

​Ni trưởng pháp danh Nguyên Ngọc, tự Minh Tuệ, thế danh Nguyễn Thị Bích, sanh ngày 11-10-1948 (Mậu Tý) tại làng Thành Công, xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

​Thân phụ là cụ ông Nguyễn Đình Dĩnh, pháp danh Nguyên Pháp, là một Phật tử thuần thành, năm mươi năm đảm trách chức vị Trưởng Ban Hộ tự và Gia trưởng GĐPT Viên Thành chùa Thành Công.

​Thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Sang, pháp danh Nguyên Bửu, một hiền nội mẫu mực, đảm đang, là người tôn kính Phật Pháp, trọng Tăng.

​Ni trưởng là người con thứ ba trong gia đình có năm anh em, 3 trai và 2 gái, hai người em của Ni trưởng cũng xuất gia theo chị. Em trai đã viên tịch còn người em gái là Ni trưởng Thích Nữ Minh Nhẫn, hiện đang trú trì tại chùa Kim Long, Ninh Hòa, Nha Trang Khánh Hòa.

​Nhờ túc duyên, từ nhỏ Ni trưởng đã có đạo tâm thường theo cha đến chùa lễ Phật, tụng Kinh, là một Đoàn sinh ngành Thiếu tham sinh hoạt Gia đình Phật tử rất là năng nổ, tư chất thông minh, điềm đạm, nhẹ nhàng, ít nói, thường biểu hiện đức tính Từ bi, thương người, thương vật, kính trên nhường dưới, chăm chỉ học hành. Nhờ sinh ra, lớn lên trong một gia đình tin sâu Phật pháp nên Ni trưởng đã sớm chọn cho mình con đường thoát tục.

II. Xuất gia học đạo

​Năm Mậu Thân (1968), được sự đồng ý của song thân cho hạnh nguyện xuất gia của mình, Ni trưởng tìm đến chùa Hoàng Mai, đảnh lễ cầu pháp với Ni trưởng thượng Thể hạ Quán, Ni trưởng thượng Cát hạ Tường và xin quy y Tam Bảo, được ban pháp danh Nguyên Ngọc.

​Sau một thời gian tập sự xuất gia, Ni trưởng đã được hai sư thế phát và cho thọ giới Sa Di Ni vào năm Tân Hợi (1971) do Ni trưởng thượng Thể hạ Yến, Giám viện Ni viện Diệu Đức làm Hoà thượng đàn đầu.

​Trong thời gian tu học tại chùa Hoàng Mai, Ni trưởng cảm nhận rằng, ngôi chùa chính là ngôi nhà thật sự, đưa mình đi đến con đường giải thoát. Bước đầu tu tập tuy gặp nhiều chướng duyên nhưng Ni trưởng không nản chí sờn lòng. Hằng ngày, tinh tấn tu hành, lập công bồi đức. Với đức tính ôn hòa nhã nhặn, thường chăm lo dạy dỗ cho các em từng con chữ vỡ lòng, nên Ni trưởng luôn được chư Huynh đệ trong chùa quý mến. Ni trưởng nối gót theo hạnh nguyện cứu khổ ban vui của Nhị vị Ni trưởng Hoàng Mai tịnh thất trong các công tác hoạt động an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo, cứu trợ bão lụt thiên tai, giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

​Sau một thời gian tu học, với ý chí tham cầu học hỏi, được sự cho phép của Nhị vị Ni trưởng Hoàng Mai, Ni trưởng đã vào Khánh Hòa học lớp Cao đẳng Phật học và thọ giới Thức Xoa Ma Na năm Quý Sửu (1973) do Hòa thượng Thích Như Chí làm Đàn đầu Hoà thượng.

​Năm Đinh Tỵ (1977), theo sự chỉ dạy của nhị vị Ni trưởng Hoàng Mai, Ni trưởng đã trở về Huế thọ giới Tỷ-kheo Ni tại Ni viện Diệu Đức do Ni trưởng Thích Nữ Thể Yến làm Hoà thượng đàn đầu.

​Sau khi giới pháp đã châu viên, với tinh thần cầu tiến, Ni trưởng đã vào Thiền viện Huệ Chiếu, Long Thành, Đồng Nai tham thiền, học đạo. Ni trưởng là một trong những thiền sinh siêng năng, tinh tấn, hòa đồng, nhã nhặn với mọi người, nên được nhiều người trân quý.

III. Quá trình hành đạo

​Sau một thời gian tham thiền học đạo, công phu tu tập đã chín muồi, với hoài bão tự lợi, lợi tha, tiếp tăng độ chúng, cần phải ra gánh vác Phật sự, dìu dắt Ni chúng. Nên Ni trưởng đã trở về Cố đô Huế, tiếp nhận ngôi chùa Hương Lưu và đảm trách chức vị trú trì dưới sự chuyển giao của Ni trưởng thượng Diệu hạ Thành vào năm Giáp Tý (1984).

​Những ngày sống ở chùa Hương Lưu, Ni trưởng đã thâu nhận đệ tử xuất gia và hướng dẫn đạo tràng đoàn chúng tu học, xây dựng ngôi Tam Bảo ngày một khang trang. Ni trưởng còn đảm nhiệm lớp Sơ cấp Phật học tại Ni viện Diệu Đức.

​Năm Giáp Tuất (1994), Trường Trung cấp Phật học tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập, Ni trưởng được Ban Giám hiệu mời giảng dạy các lớp Ni tại Ni viện Diệu Đức, suốt chặng đường dài hơn mươi năm, với trọng trách Giáo Thọ sư mà Ban Giám hiệu đã giao phó. Ni trưởng chủ nhiệm, giảng dạy trong sự tận tình, cởi mở, vui vẻ nên được nhiều Ni sinh mến mộ, thương kính.

​Hơn 10 năm trú trì chùa Hương Lưu, Ni chúng ngày càng đông nên Ni trưởng đã mua một thửa đất tại Phường An Tây và xây dựng chùa Hoàng Liên vào năm Ất Tỵ (2001).

​Năm Nhâm Ngọ (2002), hội đủ nhân duyên có Phật tử Nguyễn Thị Tý đã phát tâm cúng dường một thửa đất tại Phường Vĩ Dạ để Ni trưởng kiến thiết, xây dựng Bảo Liên Tự. Nơi đây, Ni trưởng thường lui tới với hoài bão: kiến lập đạo tràng, hướng dẫn Phật tử tu học.

​Năm Canh Dần (2010), Gia đình Phật tử Tâm Sung - Nguyễn Văn Đối và bà Tâm Thanh - Tôn nữ Thị Quán ở Quảng Trị, đã cúng dường một mảnh vườn rộng hai mẫu, Ni trưởng đã thành lập ngôi chùa Thanh Liên cho đệ tử ra hành đạo và làm Phật sự tại đây.

IV. Những năm tháng cuối đời

​Từ năm 2011 - 2021, Ni trưởng đã lâm bệnh, mặc dầu đi lại khó khăn nhưng Ni trưởng vẫn không rời đại chúng, luôn luôn sách tấn đệ tử tu học, kề vai sát cánh, không trễ nãi trong sự tu tập. Ni trưởng đã tận hiến sức mình trong việc phụng Đạo giúp đời, dìu dắt giảng dạy Ni chúng tu hành như Pháp - như Luật và hướng dẫn Phật tử thực hành theo lời Phật dạy. Đặc biệt, đối với chư Tăng, Ni trưởng luôn luôn cung kính, thường lấy Bát Kỉnh Pháp làm trọng. Đối với Phật tử, Ni trưởng luôn luôn từ ái, khéo dùng phương tiện để nhiếp hoá mọi người.

​Sau một thời gian chữa trị Đông - Tây y nhưng bệnh tình không thuyên giảm, và rồi vạn pháp duyên sanh, có sanh ắt có tử, hữu hình tất hữu hoại, Ni trưởng theo định luật sinh diệt vô thường đã an nhiên viên tịch vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 18 tháng 04 năm Bính Ngọ (Thứ Tư, 03/06/2026), tại chùa Hoàng Liên, 123, đường Thiên Thai, phường An Cựu, thành phố Huế, trụ thế: 79 năm và hạ lạp 50 năm.

NAM MÔ LÂM TẾ TÔNG, TỨ THẬP TỨ THẾ, TƯỜNG VÂN PHÁP PHÁI, HOÀNG MAI MÔN HẠ, KHAI SƠN HOÀNG LIÊN, BẢO LIÊN, THANH LIÊN TAM TỰ TRÚ TRÌ, HUÝ THƯỢNG NGUYÊN HẠ NGỌC TỰ MINH TUỆ, NI TRƯỞNG GIÁC LINH Thuỳ từ mẫn giám.

Tiểu sử các chư tôn thiền đức
Xem cỡ chữ: